20/7/12- (GDVN) - Tấm bản đồ địa lý toàn Trung Quốc mang tên Hoàng
trực tỉnh địa dư toàn đồ do Trung Quốc nghiên cứu và ấn hành cho thấy
điểm cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam.
Tấm bản đồ cổ có tên Hoàng trực tỉnh địa dư toàn đồ được TS. Mai Hồng,
nguyên Trưởng phòng Tư liệu thư viện - Viện Hán Nôm, hiện là Giám đốc
trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam, đặc biệt cẩn trọng
lưu giữ trong mấy chục năm qua, đã một lần nữa là cơ sở giúp các học giả
dẫn dụng trong các nghiên cứu chủ quyền hai quần đảo Trường Sa và
Trường Sa thuộc về Việt Nam.
Tấm bản đồ cổ có tên Hoàng trực tỉnh địa toàn dư toàn đồ chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa không phải của Trung Quốc
Theo sự chỉ dẫn của TS. Mai Hồng và quan sát của phóng viên, tấm bản đồ
được in màu, ranh giới địa phận giữa các vùng miền được phân định rạch
ròi, ghi chú chi tiết, cụ thể. Chất liệu của tấm bản đồ được làm từ vải,
gồm 35 miếng ghép bằng giấy dán lên tấm vải, mỗi miếng có kích cỡ
khoảng 20x30cm. Hơn nữa, phía trên của tấm bản đồ có khoảng 600 chữ
Trung Quốc cổ nói một cách rõ ràng xuất xứ, niên hiệu, cũng như thời
gian thực hiện tấm bản đồ này.
Theo đó, tấm bản đồ này được chính thức xuất bản năm 1904. Trước đó,
Trung Quốc cũng đã từng diễn ra việc khảo địa dư đồ, nhưng chưa được
chính xác và không có tỷ lệ chuẩn. Dưới sự chỉ đạo của triều đình nhà
Thanh khi đó, tấm bản đồ Hoàng trực tỉnh địa dư toàn đồ chính thức hoàn
thành.
TS. Mai Hồng, nguyên Trưởng phòng Tư liệu thư viện - Viện Hán Nôm,
hiện đang là Giám đốc trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam
đang chỉ cho phóng viên thấy ranh giới địa phận của Trung Quốc trong các
lát cắt chụp từ bản đồ
Xin được trích một đoạn trong lời dẫn đầu của tấm bản đồ để thấy rằng,
đây là một công trình vô cùng to lớn và mang tính chính xác cao: “Duy về
cương vực của các thôn ấp, quận huyện ở các tỉnh đã có thay đổi đôi
chút, cho nên xem chỗ nào thiếu thì bổ sung, chỗ nào nhầm lẫn thì đính
chính sửa sang, làm bớt sai suyễn và làm sáng sủa hơn lên để khi nhìn
vào đó thấy rõ ràng như nhìn vào lòng bàn tay, tại các cửa biển ở các
miền duyên hải đều phỏng họa các đường thủy tàu thuyền ra khơi vào
cảng…”, (TS. Mai Hồng dịch).
Cũng theo lời dẫn này, tấm bản đồ ra đời có công rất lớn của các giáo
sĩ, họ là những người trực tiếp đi đo đạc, ghi chép và vẽ nên tấm bản
đồ. Trong số đó, có ba vị giáo sĩ có nhiều đóng góp lớn đó là Lợi Mã Đậu
(tên tiếng anh là Matteo Bicci), Thanh Nhược Vọng (Joannes Adam Schall
Von Bell), Nam Hoài Nhân (Ferdinandus Verbiest), họ đã được ghi danh vào
cuốn từ điển Từ Nguyên của Trung Quốc. Điều đó cho thấy, đây là những
con người có thật, làm những việc có thật. Họ đã vẽ nên những điều tai
nghe mắt thấy và không có gì có thể đổi trắng thay đen được.
Các giáo sĩ có công lớn trong việc lập nên "Hoàng trực tỉnh địa dư toàn đồ" được ghi danh trong từ điển Từ Nguyên của Trung Quốc
Cụ thể trên “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” chỉ vẽ đến đảo Hải
Nam. Đảo Hải Nam trên bản đồ là điểm cực Nam lãnh thổ Trung Quốc và bản
đồ tỉnh Quảng Đông, chứng minh các quần đảo ở Biển Đông nằm ngoài lãnh
thổ Trung Quốc.
Không chỉ có người Việt khẳng định “rành rành đã định ở sách trời” mà cả
người Trung Quốc cũng phải công nhận điều đó trên giấy tờ. Tấm bản đồ
này khiến cho những người Trung Quốc có tự trọng sẽ không còn phồng mồm,
ngoác miệng nói rằng, Trường Sa, Hoàng Sa là của họ.
Nói về cơ duyên có được tấm bản đồ cổ này, TS. Mai Hồng nhớ lại: “Cách
đây khoảng hơn 30 năm về trước, có một ông cụ biết tôi hay sưu tầm sách
cổ nên đã mang đến bán cho tôi. Lúc đó, tôi không để ý lắm, chỉ nghĩ là
bản đồ cổ thì mua. Nhưng từ khi tình hình Biển Đông ngày càng căng
thẳng, tôi lục tìm tài liệu và vô tình phát hiện ra điều hiển nhiên
trong tấm bản đồ cổ của chính người Trung Quốc”.
Từ đó, ông tìm hiểu, tra cứu và dịch để hiểu rõ hơn về lai lịch của tấm
bản đồ này. Ngay khi thấy được tầm quan trọng của tấm bản đồ, ông đã tự
nguyện tặng Bảo tàng lịch sử quốc gia mà không đòi hỏi một điều gì.
Năm Mậu Tý Khang Hy 47 (1708) đời vua Thanh Thánh Tổ Nhân
Hoàng đế, Thánh Tổ nhà Thanh tuyển phái các giáo sĩ Bạch Tấn Lôi hiếu,
Tư Đỗ Đức mỹ, chế tác Vạn lý thành đồ, sau hơn một năm (1710) thì công
việc hoàn thành. Vua vui mừng, lại xuống chiếu cho [giáo sĩ] Phan Như
Lôi hiếu, Tư Đỗ Đức mỹ vẽ bản đồ Mạch đại thành của Mông Cổ, Mãn Châu
hợp thành [bản đồ của] hai tỉnh Trực Lệ và Sơn Đông.
Đến năm Tân Mão Khang Hy 50 (1711), vua sai các giáo sĩ đi tới khắp 13
tỉnh, đo lường đất đai tạo bản đồ Mạch đại “Thành Thang chuộng hiền”, đi
về các tỉnh Thiểm Tây, Sơn Tây, Giang Tây, Quảng Đông, Quảng Tây; Phùng
Bỉnh, Chính Đức, Mã Nặc đi về các tỉnh Hà Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến,
Giang Nam; Phí Ẩn, Hòa Phan - như đi về các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quí
Châu, Hồ Quảng.
Trải qua một năm bốn lần đọc duyệt, qui mô bắt đầu định hình. Các giáo
sĩ đều được triệu tập về kinh đô để họ múa bút vẽ họa, sau hai năm công
việc cáo thành với bức toàn đồ 15 tỉnh, tấu trình lên vua ngự lãm. Ngài
vui khuyến khích bằng nghi lễ long trọng. Từ đấy các nhân sĩ Trung Hoa
và phương tây sưu tập khảo cứu các dư đồ Trung Quốc. Đại để là gia cố
bồi tập thêm từ các nguyên cảo của các giáo sĩ đã soạn thảo trước đây.
Ta không do dự về kiến văn cô lậu nông cạn của mình để mô tả bức họa này
lại không dám tự khoe rằng chỉ một mình có nhiều công hơn cả tiền nhân.
Duy về cương vực của các thôn ấp quận huyện ở các tỉnh đã có thay đổi
đôi chút, cho nên xem chỗ nào thiếu thì bổ sung, chỗ nào nhầm lẫn thì
đính chính sửa sang, làm bớt sai suyễn và làm sáng sủa hơn lên để khi
nhìn vào đó thấy rõ ràng như nhìn vào lòng bàn tay, tại các cửa biển ở
các miền diên hải đều phỏng họa các đường thủy tầu thuyền ra khơi vào
cảng. Tự hỏi nếu mắc một lỗi thì sẽ lấy gì đề bù đắp đầy đủ cho cách
nhìn của vạn con mắt? Nhưng nếu có tri thức tất sẽ nói được lời nói gồm
chung thiện ý với mọi người.
Mùa xuân năm Quang Tự nhà Thanh Giáp Thìn (1904), Giám đốc [Chủ biện] đài Thiên văn ở Dư Sơn Sái Thượng Chất chép.
(Trích Địa dư toàn đồ các tỉnh của triều đình nhà Thanh)
Gửi nỗi nhớ về cho mẹ Nỗi nhớ tòng teng, mắc trên đỉnh Tháp rùa Mặt hồ lăn tăn gợn sóng...Hà Nội chiều mưa Nỗi nhớ vỡ òa, ẩn hiện
Phố hàng Khay nhộn nhịp triền miên
Ướt sũng nỗi niềm
Giọt nước mắt chị lăn một thời kỉ niệm
Từng góc phố chưa một lần xa lạ
Dẫu xa nhà nỗi nhớ vẫn kề bên
Em giấu nỗi nhớ vào những vần thơ Để nỗi nhớ chạy dài trên trang giấy Kim Giang mùa này phượng đỏ
Cảnh cửa nhà mở ngỏ
Mẹ chờ con
Ừ nỗi nhớ
Vẫn chỉ là nỗi nhớ Sao lênh loang tràn ngập cả giấc mơ
Hà Nội ơi nhớ đến ngẩn ngơ Theo chị, theo em đằng đẵng tháng ngày Da diết cơn say nỗi nhớ đọa đày
Khát khao thế một ngày trở lại
Nằm trong lòng của mẹ kính yêu Hà Nội trong ta kín những biểu chiều
Em và chị hai chiều xa ngái
Lệch múi giờ nhưng đều ngóng ngày mai
Ta trở về đi trong lòng Hà Nội
Nhẩn nha đếm từ từ không vội Kí ức ngày xưa của chị, của em !
Lúc
này thèm được tâm sự quá chị à, có thể chị em mình còn có nhiều điều
khác nhau nhưng chắc chắn nỗi nhớ thì không thể khác phải không chị, em
nhớ mẹ, nhớ Hà Nội của chúng ta và tất cả mọi người chị ơi!
Em này
hãy chứng tỏ lòng yêu nước và biển đảo quê hương của em mạnh mẽ như tình yêu
của em dành cho anh và anh cũng vậy...Mình cùng góp đá ra xây dựng Trường Sa em
nhé!
Tôi xin gửi hồn tôi
Vào những viên đá nhỏ
Để mọi người thấy rõ Tình yêu dành cho em Những viên đá có hồn Mang trí khôn người Việt Với tình yêu bất diệt Cho Hoàng Sa, Trường Sa
Biển Đông rộng bao la Biết bao đời ông cha Vượt bão táp phong ba Để khẳng định chủ quyền Biển đảo và đất liền Nối tình yêu hai đứa Và em ơi lần nữa Gửi đá xây Trường Sa
Giữ lấy cây phong ba Cây bàng vuông lá đỏ mà bao lần em ngỏ Muốn mang về quê ta
Biển trời xanh bao la Mang trong mình lịch sử Chống ngoại xâm giặc dữ Hàng chục đời ông cha Và bây giờ chúng ta Thay ông cha em nhé!